Quỹ Thách thức Việt Nam: Món tiền nhỏ - Ý nghĩa lớn

Khác với mô hình "liên kết 4 nhà", trong mô hình liên kết của VCF chỉ nổi bật lên hai nhà, và có thể nói mối liên kết giữa họ là mấu chốt. Họ sẽ đồng hành với nhau trong suốt chuỗi giá trị, bởi sự gắn bó hữu cơ về lợi ích với nhau. Còn nhà nước và nhà khoa học chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong những công đoạn cần thiết đến vai trò của họ trong cả quá trình xây dựng chuỗi giá trị.

LTS: Quỹ Thách thức Việt Nam (VCF) mà Tuanvietnam đã đề cập trong bài "Vị Giám đốc và lời 'thách thức' 200 ngàn đô" là một trong 3 hợp phần của dự án "Phát triển thị trường cho người nghèo, giai đoạn 2" (M4P2). Ngoài dự án chè hữu cơ Cao Bồ, VCF đã tài trợ cho 6 mô hình kinh doanh sang tạo khác trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam, như cà phê, cá, thịt bò, nấm, sắn và trái cây.

Với tổng số tiền bỏ ra không lớn, chỉ là gần 1,8 triệu USD (chưa đến 40 tỷ đồng), VCF đã thu hút được một phần vốn đối ứng hơn 5 triệu USD (hơn 100 tỷ đồng) từ các nhà đầu tư tư nhân, để cải thiện thu nhập cho hơn 20 ngàn người nghèo trên toàn quốc, cũng như tạo ra hơn 3200 việc làm mới cho họ. Một con số hết sức ấn tượng, nếu so sánh với các chương trình "xóa đói giảm nghèo", hay "tạo việc làm", với những khoản ngân sách khổng lồ, mà Việt Nam đã tiến hành từ trước đến nay.

Trong mục "Gợp gỡ & Đối thoại" tuần này, Tuanvietnam xin trân trọng giới thiệu cuộc trò chuyện của phóng viên Huỳnh Phan với ông Đào Việt Dũng, cán bộ cấp cao của Văn phòng Ngân hàng Phát triển Châu Á tại Việt Nam, người được giao phụ trách VCF và những dự án kinh doanh mà quỹ này tài trợ.

(Sự tham gia của ông Đào Việt Dũng vào M4P2, theo lời ông là một sự bất đắc dĩ, khi Phó Giám đốc ADB Vietnam, người được cử tham gia dự án này, bất ngờ được chuyển sang làm giám đốc ADB Campuchia.)

Việc "nhảy dù" giữa chừng vào dự án có làm ông bỡ ngỡ không?

Cũng không hẳn vậy. Tiếng là "nhảy dù", nhưng quả thực khi tôi bắt tay vào tìm hiểu mới biết rằng, tuy đã khởi động trước đó nhiều tháng, M4P2 vẫn bị bế tắc và trì hoãn.  Lý do?

Vai trò cầm trịch được giao cho một cơ quan chính phủ mà năng lực của họ không đáp ứng được, như họ đã hình dung khi nhảy vào "nắm" dự án. Hơn nữa, càng làm, tôi mới càng hiểu rằng một cơ quan chính phủ luôn bị hạn chế trong việc chấp nhận mạo hểm và tạo ra những đột phá. Dự án này quá mới mẻ, với cả Việt Nam, lẫn các nhà tài trợ.

Xin ông nói rõ hơn.

Thứ nhất, chuyện quỹ thách thức không phải là một điều gì mới mẻ trên thế giới, và DFID đã có nhiều dự án thành công trên thế giới. Nhưng đây là lần đầu tiên một quỹ thách thức được dành cho một quốc gia đơn lẻ, và cách tiếp cận hoàn toàn khác.

Thứ hai, việc tài trợ cho doanh nghiệp trong các dự án vi mô, nhiều tổ chức phi chính phủ đã làm ở Việt Nam, và khá thành công, nhưng những mô hình của họ có qui mô nhỏ hơn về qui mô, và thấp hơn về cách thức phối hợp triển khai, cũng như mục tiêu đề ra.

Nói một cách khác, cái mới ở đây là hỗ trợ phát triển, chứ không phải xây dựng năng lực, hay đầu tư trực tiếp.


Ông Đào Việt Dũng đang trao đổi về dự án với Giám đốc Công ty Hùng Cường
và nhóm phóng viên.

Thứ ba, với riêng ADB, từ trước đến nay tổ chức này chỉ tài trợ cho các dự án hạ tầng thuộc khu vực công, nói một cách nôm na là điện - đường - trường - trạm. Nếu có dự án với doanh nghiệp, thì đó là những doanh nghiệp lớn của nhà nước, hay ngân hàng.

Còn các dự án của VCF là kết hợp giữa công và tư, tức là không lấy lợi nhuận là mục tiêu chính, nhưng cũng không phải là công cộng với ý nghĩa trợ giúp thuần túy. Mục tiêu của nó là thông qua doanh nghiệp để hỗ trợ người dân thoát nghèo bằng cách tham gia một chuỗi giá trị gia tăng cao.

Nói tóm lại, dự án này mới về cách tiếp cận, mới về đối tác, và vì vậy đòi hỏi một cơ chế mới để thực hiện.

Tại sao lại có cái tên Quỹ Thách thức?

Đây là một ý tưởng xuất phát từ nước Anh, và họ đã triển khai ý tưởng này trên thế giới. Quỹ Thách thức Việt Nam (VCF) phần lớn do DFID đóng góp, và ADB quản lý. Họ thách thức các doanh nghiệp đưa ra các ý tưởng kinh doanh sáng tạo và mang lại tác động lớn với cộng đồng.

Những ý tưởng này tuy vẫn phải đảm bảo tính khả thi nhưng vẫn mang yếu tố rủi ro nào đó, và phần thưởng là khoản tài trợ nhiều nhất là 49% tổng giá trị dự án. Chính vì doanh nghiệp phải bỏ tiền ra, mà lại là phần lớn hơn, nên chỉ những doanh nghiệp thật sự nghiêm túc trong thái độ kinh doanh và có ý tưởng đột phá thật sự trong kinh doanh mới theo đuổi dự án đến cùng.

Anh thấy đấy, từ 210 đề xuất, chúng tôi chỉ chọn được 1/10 để từ đó giúp xây dựng đề án, và cuối cùng chỉ còn 7 dự án được thực hiện đến cùng.

Việc đầu tiên ông phải làm là gì?

Tháng 7.2009, khi bắt đầu nhận nhiệm vụ mới, việc đầu tiên tôi làm gặp gỡ, trao đổi, thậm chí đàm phán, với những bên liên quan như DFID, Bộ Kế hoạch - Đầu tư (MPI), và nhất là cái bộ được giao cầm trịch ở VCF. Cũng mất tới một hai tháng chứ chẳng ít.

Phút dừng chân trên đoạn đường đi vào vùng chè hữu cơ Cao Bồ.

Và kết quả đạt được là một MOU (biên bản ghi nhớ) giữa ADB, DFID và MPI được ký lại, để điều chỉnh lại tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các bên.

Những sửa đổi quan trọng nhất trong MOU đó là ADB quản lý 2 hợp phần rất quan trọng là VCF và PARU (Nghiên cứu Hành động Chính sách), và hợp phần còn lại là "xây dựng năng lực" do MPI quản lý.

Theo ông, nguyên nhân chính khiến ông thuyết phục được các bên liên quan, nhất là cái cơ quan chính phủ lúc đầu được giao quản lý VCF?

Nếu quản lý kém, nhà tài trợ sẽ giảm bớt tài trợ, và đó là sự lãng phí lớn một nguồn lực tài chính mà Việt Nam đang rất cần để thực hiện xóa đói giảm nghèo.

Kết quả của được đạt được của 7 dự án của VCF đã cho thấy rõ tác động trong "xóa đói giảm nghèo", khi hơn 20 ngàn người nghèo đã được cải thiện thu nhập theo hướng bền vững, cũng như hơn 3 ngàn việc làm mới đã được tạo ra.

Xin ông cho biết cách tiếp cận của VCF có khác gì so với các chương trình xóa đói giảm nghèo do chính phủ Việt Nam đã tiến hành từ trước đến nay?

Cái mới trong cách tiếp cận của chúng tôi, khác với quan niệm phổ biến từ trước đến nay, là người nghèo không phải đối tượng của chính sách xã hội (đối tượng cần trợ giúp để thoát đói nghèo), mà họ là một trong chủ thể của tiến trình phát triển, trước hết là kinh tế.

Chính vì vậy, điểm cốt lõi trong các dự án của VCF là trao quyền năng cho người nông dân và thúc đẩy sự tham gia chủ động của họ vào việc phát triển chuỗi giá trị thị trường của nông sản, được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp năng động.

Ông có thể giải thích rõ hơn khái niệm "trao quyền năng" và "(thúc đẩy) sự tham gia", chẳng hạn, thông qua dự án mà chúng ta đang tham quan, được không?

Trao quyền năng và thúc đẩy sự tham gia chính là quá trình biến họ từ đối tượng thành chủ thể.

Trong dự án chè hữu cơ Cao Bồ, bản thân người dân đã có năng lực trồng chè hữu cơ từ bao đời nay, và chúng ta thúc đẩy năng lực này bằng việc hướng dẫn cho họ cách chăm sóc, thu hái chè để làm sao tạo hiệu quả (về thu nhập) cao nhất, và bền vững nhất (tăng tuổi thọ của cây chè), cũng như tạo nguồn thu nhập bổ sung (trồng mới khoảng 300 héc ta chè).

Đó là chưa nói đến việc tối ưu hóa qui trình sản xuất, từ khâu nguyên liệu, khi những điểm thu mua được lập ra ở những khu vực xa nhà máy. Người nông dân thay vì mất thời gian chuyển chè tươi đến tận nhà máy như trước đây, họ chỉ việc tập trung vào hái chè.

Cũng chính nhờ năng lực đã được kích thích của người dân mà doanh nghiệp (Công ty Hùng Cường) có được nguồn nguyên liệu chè hữu cơ ổn định để có thể chủ động tham gia phân khúc cao hơn của thị trường, và đỡ bị cạnh tranh khốc liệt như khi còn ở phân khúc thấp.

Đã 10 năm nay, kể từ khi Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định 80 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa và liên kết "4 nhà" (nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông), đã có nhiều thử nghiệm, nhưng dường như kết quả đạt được vẫn còn hạn chế. Vẫn luôn thấy xuất hiện sự chê trách, đổ lỗi qua lại giữa nhà doanh nghiệp và nhà nông, hoặc vai trò và lợi ích của hai nhà còn lại là nhà nước và nhà khoa học hầu như chưa rõ ràng.

Vậy, trong mô hình mới của VCF, mối liên kết này có khác gì không, cũng như các ông có rút được kinh nghiệm gì từ mô hình liên kết "4 nhà"?

Trong mô hình liên kết của VCF chỉ nổi bật lên hai nhà, và có thể nói mối liên kết giữa họ là mấu chốt. Họ sẽ đồng hành với nhau trong suốt chuỗi giá trị, bởi sự gắn bó hữu cơ về lợi ích với nhau, trong đó nhà doanh nghiệp sẽ biết xác định được các lĩnh vực còn yếu kém và tìm kiếm hỗ trợ cho cả nông dân lẫn bản thân họ.

Còn hai nhà kia (nhà nước và nhà khoa học), cũng như các tổ chức khác, đóng vai trò hỗ trợ trong những công đoạn cần thiết đến vai trò của họ trong cả quá trình xây dựng chuỗi giá trị.

Chẳng hạn, trong dự án Cao Bồ, nhà doanh nghiệp (Công ty Hùng Cường) đã thuê nhà khoa học (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Miền Núi phía Bắc - NOMAFSI) cung cấp giống chè Shan và hỗ trợ kỹ thuật cho họ lập vườn ươm, nhằm mục đích phát triển diện tích vùng nguyên liệu hữu cơ.

Nhà doanh nghiệp này còn thuê một nhà doanh nghiệp khác là Eco-link để tập huấn cho các nhóm nông dân, đặc biệt về kỹ thuật canh tác hữu cơ.

Họ còn thuê SNV, một tổ chức phát triển phi lợi nhuận của Hà Lan, hỗ trợ thành lập và tăng cường hoạt động cho các nhóm nông dân, cũng như xây dựng thương hiệu Cao Bồ Origin.

Vai trò của nhà nước ở Cao Bồ thể hiện trong việc các trưởng thôn tham gia rất tích cực của các trưởng thôn trong việc vận động bà con người Dao tham gia dự án chè hữu cơ, tổ chức các lớp học, cũng như nhiều người trong số họ đã trở thành đại lý thu mua của nhà doanh nghiệp.

Hay như với con đường đất đá, gập ghềnh, luôn sạt lở vào những hôm trời mưa, mà chúng ta đã đã đi qua, rất cần vai trò của nhà nước, trong mối liên kết với doanh nghiệp và người dân đối với việc duy tu bảo dưỡng đường nông thôn. Chúng tôi đã có một nghiêm cứu sâu về vấn đề này, và sẽ trình bày vào hội thảo vào ngày 21.6.

Ông có thể cho biêt ngắn gọn về mối liên kết này, trên cơ sở con đường đất vào Nhà máy chè Cao Bồ không?

Tôi nghĩ nhà nước có thể tài trợ xi măng, còn nhà doanh nghiệp và nhà nông sẽ góp thêm sỏi đá tự khai thác, và nhất là ngày công lao động làm đường. Nhất là vào lúc thị trường bất động sản lại khủng hoảng thế này, tập trung đầu tư vào đường nông thôn nhà nước còn cứu được cả các doanh nghiệp xi măng khỏi phá sản nữa chứ. Nhất cử lưỡng tiện, đúng không anh?

À, tôi nhớ rồi. Chính hồi khủng hoảng kinh tế châu Á cuối thế kỷ trước, bất động sản đóng băng, chính quyết định kiên cố hóa kênh mương thủy lợi đã một lần cứu được các nhà sản xuất xi măng, và lại còn hỗ trợ được nông nghiệp và nông dân nữa chứ.

Đúng vậy. Và để khuyến nghị chính sách này với Chính phủ Việt Nam, chúng tôi còn đưa ra khái niệm quản lý dựa trên cộng đồng, tức là cộng đồng sẽ là người tham gia thiết kế con đường làm sao mà họ thấy phù hợp nhất.

Họ biết đường rộng bao nhiêu, lớp bê tông dày bao nhiêu là vừa. Chứ còn để nhà nước quản lý nhiều khi lại do câu chuyện lợi ích, hoa hồng, ăn chia, mà họ cố làm đường to, gây thất thoát và lãng phí. Và điều quan trọng là việc duy tu bảo dưỡng bởi cộng đồng cũng khiến họ có trách nhiệm hơn với con đường.

Như ông đã nói ADB xưa nay chỉ tài trợ những dự án điện - đường - trường - trạm. Bây giờ là thêm cái chợ để thành điện - đường - trường - trạm - chợ, tức là đưa sản phẩm của người nông dân ra thị trường với giá trị cao nhất, có thể được?

Nhà báo các anh chỉ hay thích dung chữ thôi. Thực chất, trong 7 dự án vừa rồi, chúng tôi đã tham gia vào cả chuỗi, từ sản xuất của nông dân, vùng nguyên liệu, rồi khâu chế biến của doanh nghiệp và để sản phẩm đến được với thị trường với hàm lượng giá trị gia tăng cao nhất.

Nhiều dự án của Việt Nam không thành công vì nhà nước chỉ tham gia một đoạn, chủ yếu là sản xuất, chứ đoạn sau lại để cho bà con tự "bơi" (tự tìm đầu ra cho nông sản).

Chẳng nói đâu xa, câu chuyện của anh nông dân tên Thỉnh (Bàn Văn Thỉnh) ở Cao bồ mà chúng ta đã gặp là ví dụ khá rõ. Trước đây, nhà nước đầu tư cây giống cho bà con trồng thảo quả, nhưng rồi để mặc họ tìm đầu ra, chủ yếu bán rẻ cho thương lái Trung Quốc. Đâm ra, người dân cũng mặc kệ, đượcc chăng hay chớ, rất lãng phí.

Quan điểm của VCF thì khác, tiền nhỏ, nhưng lợi ích phải lớn, hiệu quả phải cao. Tất cả là nhờ qui trình chọn đề án đầu tư đúng hướng, rồi quản lý, kiểm soát chặt chẽ, giảm bớt mọi thủ tục trung gian, để người dân có thể thụ hưởng phần lớn nhất, lâu dài và bền vững nhất, từ số tiền đó.

Xin cảm ơn ông.
Huỳnh Phan

source: http://vietnamnet.vn

 

       Bookmark and Share           


 

 
  
 

Giáo dục phát triển | Công dân giáo dục | Thế giới trẻ | Văn minh đô thị | Tiếp thị xanh
Copyright © 2011 VietnamMarcom. CauChuyen.VietnamMarcom.edu.vn - All rights reserved.